|
| Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM được thiết kế với những chi tiết đậm nét văn hóa truyền thống của Việt Nam. Ảnh: Huỳnh Nhi. |
Văn hóa truyền thống trong phát triển kiến trúc và xây dựng đô thị là đề tài đã có rất nhiều người nghiên cứu. Bắt đầu từ các kiến trúc dân gian, bố cục làng xã, rồi đến các đình chùa và các di sản kiến trúc nói chung.
Sự nghiên cứu ấy những mong tìm ra nét đặc sắc của Việt Nam để ứng dụng vào kiến trúc thời nay nhằm tạo ra một cái gì đấy gọi là truyền thống dân tộc.
Tôi cho đó cũng là một cách làm, giống khá nhiều ngành nghệ thuật khác như âm nhạc, sân khấu, hội họa, v.v… đi tìm những câu ca trù, những làn điệu dân ca, tìm hiểu về nghệ thuật tuồng, chèo,… để ngấm sâu những chất liệu đặc sắc ấy và biến thành máu thịt của mình rồi từ đấy sáng tạo nên những cái mới.
Trong kiến trúc ở một mức độ nào đấy cũng có người làm được như vậy. Bảo tàng Thái Nguyên, Thư viện Tổng hợp TP.HCM, khách sạn Victoria ở Hội An… là những ví dụ.
Không phải các kiến trúc sư đã cố tình bắt chước cái cổ truyền hay đưa nguyên xi các mô típ kiến trúc cổ truyền vào trong kiến trúc mới mà chính là họ đã đọc được cái hồn, nắm được cái thần của những nét tinh túy người xưa để lại, để từ đấy sáng tạo nên cái mới của ngày hôm nay.
Tôi vẫn nhớ câu nói của một kiến trúc sư bậc thầy người Nhật - Kiến trúc sư Kenzo Tange: “Hãy thấm nhuần cho kỹ truyền thống rồi quên nó đi”. Câu nói này cũng gần như câu của Edouard Herriot về văn hóa nói chung: “Văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả”. Kiến trúc cũng là văn hóa.
Đầu đao, con triện, cột “thượng thu hạ thách” nhà rộng 3 gian, 5 gian, có người phân tích Ngọ Môn cũng như nhiều kiến trúc cổ Việt Nam đa phần đều theo tỷ lệ vàng của người Việt: 1/1,618 gần với tỷ lệ 2/3 mà dân gian thường nói “ngồi 2 nằm 3”, v.v… và rất nhiều những mô típ, chi tiết, tỷ lệ, nguyên tắc mà người ta cho là có những nét riêng Việt Nam.
Việc nghiên cứu như thế rất cần thiết, không phải là sự sao chép lại mà phải tìm hiểu tại sao nó lại như vậy và càng không thể ứng dụng nó một cách máy móc, thô thiển vào trong kiến trúc mới.
Thời đại ngày nay đã rất khác xưa. Vật liệu mới, kỹ thuật mới, công nghệ mới, và nhu cầu của con người mỗi ngày mỗi mới cho nên không dễ gì ứng dụng những cái cổ truyền được.
Cung đình, chùa chiền, lăng tẩm thời Nguyễn không còn mái cong và những mực thước kiến trúc như đình chùa ngày xưa nữa, không gian ngoại cảnh phong phú hơn, không gian nội thất rộng rãi thoáng đạt hơn, và cấu trúc đơn giản hơn. Song vẫn phản ánh những nét tinh hoa, những nét riêng biệt của kiến trúc cổ truyền Việt Nam, vẫn nhìn thấy tính cách, tâm hồn Việt Nam nơi ấy.
Vậy thì cái cổ truyền mà ta vận dụng cho ngày hôm nay không phải chỉ là cái cụ thể, cái chi tiết mà chính là cái tinh hoa còn lắng đọng lại từ cái hồn, cái chất, cái gì đó thuộc về phạm trù ý thức, tình cảm, tâm linh mà đất nước này, xứ sở này, thiên nhiên này đã tạo ra nó.
Như vậy nói đến truyền thống trong kiến trúc ta phải nói đến cái gì sâu hơn - đó là truyền thống văn hóa nói chung.
Thực ra kiến trúc bao gồm cả quy hoạch là một ngành văn hóa nghệ thuật mang tính tổng hợp rất cao. Trong kiến trúc có giai điệu, tiết tấu, khoảng lặng, khoảng mở, có hình tượng, sắc màu, bố cục, tâm thức tư duy,…
Vì vậy truyền thống của kiến trúc chính là từ truyền thống của văn hóa mà ra. Tôi không dám đi sâu vào những vấn đề truyền thống văn hóa, đó là công việc của những nhà nghiên cứu văn hóa.
Ở đây tôi chỉ muốn nối kết những gì mà họ đã phát hiện ra với những vấn đề của kiến trúc và xây dựng đô thị.