Bạn có thể chuyển sang phiên bản mobile rút gọn của Tri thức trực tuyến nếu mạng chậm. Đóng

Mini Magazine

'Mỏ vàng' y học cổ truyền và bài toán kinh tế thảo dược

Để vươn tầm, y học cổ truyền buộc phải chuẩn hóa bằng dữ liệu khoa học, phát triển mô hình kinh tế thảo dược đa tầng và kiến tạo một hệ sinh thái quốc gia.

Một nền y học có thể bắt đầu từ những thứ rất gần gũi: Những chiếc lá trong vườn, một bài thuốc gia truyền hay kinh nghiệm chữa bệnh được người xưa đúc kết qua nhiều thế hệ.

Với Việt Nam, di sản ấy không nằm trên giấy, mà hiện hữu trong hơn 5.000 loài dược liệu cùng hàng chục nghìn bài thuốc dân gian - một tài sản quốc gia vô giá được chắt lọc từ tri thức của trí tuệ của bao thế hệ danh y như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông.

Đưa y học cổ truyền vươn tầm thành một phần trong chiến lược quốc gia không chỉ đòi hỏi việc giữ gìn di sản của cha ông, mà phải nâng tầm thành những sản phẩm có sức cạnh tranh toàn cầu.

Trả lời Tri Thức - Znews, GS.BS Trịnh Thị Diệu Thường, Cục trưởng Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền (Bộ Y tế), đã thẳng thắn phác họa bức tranh toàn cảnh về vị thế, thách thức và khát vọng nâng tầm Y học cổ truyền Việt Nam.

Xóa bỏ hoài nghi y học cổ truyền bằng dữ liệu khoa học

- Kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại đang là xu hướng tất yếu. Mô hình nào đang phát huy hiệu quả rõ nét nhất trong thực tiễn điều trị? Bà có thể nêu dẫn chứng cụ thể.

Theo tôi, một trong những mô hình kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại đang phát huy hiệu quả rõ nét hiện nay là mô hình điều trị và phục hồi chức năng toàn diện cho người bệnh sau đột quỵ.

Trong mô hình này, y học hiện đại đóng vai trò quyết định ở giai đoạn cấp cứu và điều trị nguyên nhân, như chẩn đoán hình ảnh, tái thông mạch máu, kiểm soát các yếu tố nguy cơ và điều trị nội khoa. Ngay sau giai đoạn cấp tính, các phương pháp của y học cổ truyền được phối hợp sớm với phục hồi chức năng hiện đại nhằm tối ưu hóa quá trình hồi phục.

Thực tế tại nhiều bệnh viện y học cổ truyền và khoa Phục hồi chức năng trên cả nước, mô hình phối hợp này đã được triển khai thường quy và mang lại kết quả rất tích cực. Nhiều nghiên cứu trong nước cũng như quốc tế đã chứng minh việc kết hợp châm cứu với phục hồi chức năng chuẩn giúp cải thiện vận động và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tốt hơn hẳn so với việc chỉ áp dụng một phương pháp đơn lẻ.

Tôi cho rằng, mô hình này là minh chứng sinh động cho thấy sự kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại không phải là sự thay thế hay cạnh tranh lẫn nhau, mà là sự bổ sung thế mạnh để mang lại lợi ích cao nhất cho người bệnh.

- Một trong những thách thức lớn hiện nay là làm sao chứng minh hiệu quả điều trị của các bài thuốc, phương pháp y học cổ truyền bằng các bằng chứng khoa học. Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền đang có những giải pháp gì để thúc đẩy nghiên cứu khoa học, xây dựng cơ sở dữ liệu và chuẩn hóa các phác đồ điều trị?

Thách thức hiện nay là chuyển hóa những kinh nghiệm đó thành dữ liệu có thể đo lường, kiểm chứng, so sánh và tái lập, đồng thời vẫn tôn trọng đặc điểm lý luận, chẩn đoán và điều trị của y học cổ truyền. Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền đang tham mưu, triển khai các giải pháp theo một số hướng trọng tâm.

Trước hết là chọn đúng "thế mạnh" để nghiên cứu bài bản. Thay vì làm dàn trải, ngành ưu tiên đầu tư nghiên cứu các bài thuốc, phương pháp và nhóm bệnh mà Y học cổ truyền có ưu thế vượt trội. Các thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm phải chứng minh rõ ràng từ độ an toàn, tác dụng dược lý đến chi phí và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân

Y học cổ truyền ảnh 5

Một hệ sinh thái từ dược liệu, bệnh viện, khoa học công nghệ đến du lịch sức khỏe đang được đặt vào tham vọng phát triển y học cổ truyền Việt Nam. Ảnh: Trần Hiền.

Hai là, chuẩn hóa tuyệt đối đầu vào. Một bài thuốc chỉ có thể được đánh giá chính xác khi xác định rõ thành phần, tỷ lệ, nguồn gốc dược liệu, tiêu chuẩn chất lượng, phương pháp sơ chế, bào chế, liều dùng, đường dùng và thời gian sử dụng. Tương tự, đối với các phương pháp không dùng thuốc như châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, cứu, thủy châm hoặc cấy chỉ, cần chuẩn hóa chỉ định, chống chỉ định, quy trình thực hiện, nhân lực, thiết bị, theo dõi và xử trí tai biến. Có chuẩn hóa mới có thể tái lập và nhân rộng trên toàn hệ thống khám chữa bệnh.

Ba là, số hóa và mã hóa cơ sở dữ liệu quốc gia. Cục đã tham mưu Bộ Y tế ban hành bộ mã dùng chung về bệnh danh, triệu chứng, huyệt vị và pháp điều trị. Đây là "chìa khóa" để đưa Y học cổ truyền vào bệnh án điện tử, liên thông bảo hiểm y tế và bảo hộ bản quyền cho các bài thuốc gia truyền.

Bốn là, chuẩn hóa phác đồ và đẩy mạnh công bố quốc tế. Chúng tôi cũng mở rộng mạng lưới nghiên cứu kết nối giữa các viện, trường đại học, bệnh viện và doanh nghiệp, nâng cao năng lực công bố quốc tế và chuyển giao công nghệ.

Tôi cho rằng, mục tiêu cuối cùng là tạo ra một hệ thống dữ liệu đủ tin cậy. Khi có bằng chứng và phác đồ chuẩn, kết quả nghiên cứu sẽ được chuyển hóa thành chính sách bảo hiểm y tế, hướng dẫn chuyên môn và các sản phẩm dược liệu chất lượng. Đó chính là con đường để Y học cổ truyền Việt Nam phát triển khoa học, hiện đại và hội nhập, nhưng vẫn giữ trọn bản sắc dân tộc.

Giải pháp từ kinh tế thảo dược

- Việt Nam có lợi thế lớn về dược liệu nhưng vẫn phải nhập khẩu nhiều nguyên liệu quý. Theo Cục trưởng, đâu là những điểm nghẽn cần tháo gỡ để phát triển ngành dược liệu trong nước?

- Những điểm nghẽn cần tháo gỡ để phát triển ngành dược liệu trong nước gồm:

Đầu tiên là quy mô sản xuất còn manh mún, tự phát và thiếu liên kết. Mối nối giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp rất lỏng lẻo, thiếu hẳn những doanh nghiệp đầu tàu đủ mạnh để dẫn dắt toàn chuỗi từ trồng, chế biến đến tiêu thụ và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Sự kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại không phải là sự thay thế hay cạnh tranh lẫn nhau, mà là sự bổ sung thế mạnh để mang lại lợi ích cao nhất cho người bệnh

GS.BS Trịnh Thị Diệu Thường

Thứ hai là bài toán giống và công nghệ. Nhiều loại dược liệu chưa chủ động được nguồn giống chất lượng cao, ổn định. Khâu chế biến sâu còn yếu nên phần lớn dược liệu vẫn bán ở dạng thô, thu về giá trị gia tăng rất thấp.

Thứ ba là nguồn lực đầu tư còn hạn chế và chúng ta đang rất thiếu thông tin về thị trường quốc tế.

Để tháo gỡ những điểm nghẽn này, cần xây dựng và triển khai hiệu quả các chính sách đặc thù về vùng trồng quy mô lớn, ưu tiên vốn, công nghệ và đẩy mạnh xúc tiến thương mại để biến tiềm năng dược liệu thành một ngành kinh tế mũi nhọn, sẽ được cụ thể hóa trong Chiến lược phát triển ngành y dược cổ truyền đến năm 2030, tầm nhìn 2045 gồm:

- Tập trung xây dựng các vùng chuyên canh quy mô lớn, hình thành các chuỗi liên kết từ sản xuất đến chế biến và bảo quản để đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước và hướng đến xuất khẩu; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để tăng cường khai thác, bảo tồn bền vững, nuôi trồng dược liệu dưới tán rừng thông qua các phương án quản lý rừng bền vững.

- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, lựa chọn được giống dược liệu có chất lượng cao, năng suất ổn định, đạt chuẩn GACP-WHO và tăng cường đầu tư vào chế biến sâu để nâng cao sức cạnh tranh.

Y học cổ truyền ảnh 6

Dây chuyền sản xuất thuốc Đông y tại Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM. Ảnh: Hoài Bảo.

- Triển khai thực hiện các chính sách ưu đãi đầu tư, tín dụng ưu đãi theo các Chương trình mục tiêu quốc gia và các nguồn đầu tư của địa phương một cách hiệu quả để hỗ trợ nguồn vốn cho các dự án phát triển dược liệu; chủ động nghiên cứu thị trường quốc tế và xúc tiến thương mại nhằm xây dựng thương hiệu dược liệu Việt Nam toàn cầu.

Cần từng bước phát triển mô hình "kinh tế thảo dược" đa tầng, tích hợp dược liệu với văn hóa và du lịch sức khỏe để tối đa hóa giá trị kinh tế và đặt tất cả trong Chiến lược phát triển y học cổ truyền sắp ban hành. Khi làm chủ được nguyên liệu, chúng ta không chỉ giảm nhập khẩu mà hoàn toàn có thể hướng tới xuất khẩu.

Điểm nghẽn nào đang giữ chân y học cổ truyền?

- Dù có nhiều tiềm năng, y học cổ truyền vẫn chưa được người dân sử dụng tương xứng. Theo bà, đâu là nguyên nhân chính của thực trạng này?

Theo tôi, nguyên nhân cốt lõi nằm ở khoảng cách giữa tiềm năng đồ sộ và mức độ tin cậy, tính thuận tiện cùng khả năng tiếp cận của người dân.

Trước hết là rào cản từ nhận thức. Một bộ phận người dân vẫn coi Y học cổ truyền chỉ dành cho người già, bệnh mạn tính hoặc là "lựa chọn cuối cùng". Ngược lại, không ít người lại lầm tưởng thuốc nam, thuốc bắc tự nhiên thì tuyệt đối lành tính, tự ý sử dụng không qua kê đơn. Cả hai góc nhìn này đều lệch lạc, khiến y học cổ truyền chưa được dùng đúng chỉ định và thời điểm.

Một điểm nghẽn lớn khác nằm ở hệ thống bằng chứng khoa học và sự chuẩn hóa chưa đồng đều. Việc thiếu đồng nhất về chất lượng dược liệu hay quy trình bào chế giữa các cơ sở khiến hiệu quả điều trị không ổn định, trực tiếp bào mòn niềm tin của bệnh nhân.

Y học cổ truyền ảnh 7

Y học cổ truyền Việt Nam được kỳ vọng thoát khỏi cách tiếp cận cũ, tiến tới một hệ sinh thái hiện đại, khoa học và đủ sức cạnh tranh quốc tế. Ảnh: Trần Hiền.

Bên cạnh đó, năng lực cung ứng dịch vụ còn chênh lệch lớn giữa các tuyến, danh mục kỹ thuật chưa phong phú và cơ chế thanh toán BHYT vẫn cần tiếp tục được tháo gỡ.

Đặc biệt đáng quan ngại là tình trạng quảng cáo thần y, "cam kết chữa khỏi 100%" tràn lan trên mạng xã hội. Hành vi thổi phồng bài thuốc gia truyền này không chỉ đe dọa sức khỏe người bệnh mà còn làm hoen ố uy tín của y học cổ truyền chính thống. Trong khi đó, truyền thông chính thống chưa đủ mạnh để giúp người dân phân biệt đâu là cơ sở được cấp phép.

Tôi cho rằng, chỉ khi chúng ta giải quyết đồng bộ từ chuẩn hóa chuyên môn, minh bạch bằng chứng khoa học, siết chặt quảng cáo bẩn đến mở rộng BHYT, người dân mới được tiếp cận y học cổ truyền an toàn, chuẩn mực và đúng với tiềm năng vốn có.

Y học cổ truyền ảnh 8

GS.TS.BS Trịnh Thị Diệu Thường, thăm khám cho bệnh nhân. Ảnh: NVCC.

Kiến tạo hệ sinh thái y học cổ truyền quốc gia

- Tại buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phải đặt việc phát triển y học cổ truyền trong tổng thể chiến lược phát triển của đất nước trong giai đoạn mới; phát triển một hệ sinh thái y học cổ truyền quốc gia. Ở góc độ quản lý, bà nhìn nhận ra sao về vị thế và trách nhiệm của ngành trước định hướng này?

Điều quan trọng nhất trong chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước không chỉ là phát triển y học cổ truyền, mà còn là thay đổi cách nhìn về y học cổ truyền.

Trước đây, chúng ta thường nhìn y học cổ truyền chủ yếu dưới góc độ khám bệnh, chữa bệnh. Lần này, y học cổ truyền được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước và được định hướng phát triển theo mô hình hệ sinh thái. Điều đó có nghĩa y học cổ truyền không chỉ gắn với bệnh viện hay thầy thuốc mà còn gắn với phát triển dược liệu, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, công nghiệp chế biến, du lịch chăm sóc sức khỏe, bảo tồn tri thức truyền thống và xây dựng thương hiệu quốc gia.

Đây là một cách tiếp cận toàn diện và cũng là định hướng rất phù hợp với xu thế phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Đối với cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực y dược cổ truyền, đây vừa là vinh dự, vừa là trách nhiệm lớn.

Chúng tôi xác định không chỉ làm tốt công tác quản lý chuyên ngành, mà còn phải chủ động kiến tạo môi trường thuận lợi để y học cổ truyền phát triển. Điều đó đòi hỏi phải hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy nghiên cứu khoa học, phát triển công nghiệp dược liệu, đẩy mạnh chuyển đổi số và tạo điều kiện để các giá trị của y học cổ truyền được thương mại hóa, hội nhập quốc tế.

Đây cũng là những nội dung cốt lõi đang được cụ thể hóa trong dự thảo Chiến lược quốc gia phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 mà Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền đang dự thảo.

Mục tiêu cuối cùng không chỉ dừng ở việc phát triển một lĩnh vực chuyên môn mà là xây dựng một hệ sinh thái y học cổ truyền hiện đại, dựa trên nền tảng tri thức truyền thống, khoa học và đổi mới sáng tạo, để y học cổ truyền thực sự trở thành một trong những thế mạnh của hệ thống y tế Việt Nam, đồng thời đóng góp vào phát triển kinh tế sức khỏe và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

- Trong chiến lược phát triển đến năm 2030, tầm nhìn 2045, Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền đặt ra những mục tiêu trọng tâm nào để đưa y học cổ truyền trở thành một trong những thế mạnh của hệ thống y tế Việt Nam?

Để tạo bước chuyển mình mang tính lịch sử cho y học cổ truyền Việt Nam theo tinh thần chỉ đạo của của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước với tư duy mới, tầm nhìn mới, cách tiếp cận mới, Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền đang xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành Chiến lược quốc gia phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với quan điểm xuyên suốt: Đưa y học cổ truyền phát triển toàn diện, hiện đại, khoa học và hội nhập quốc tế trên cơ sở kế thừa, phát huy tinh hoa y học dân tộc; kết hợp chặt chẽ giữa y học cổ truyền và y học hiện đại; phát huy các giá trị văn hóa, khoa học và kinh tế của y học cổ truyền, từng bước đưa lĩnh vực này trở thành một ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao, đóng góp vào phát triển kinh tế sức khỏe, kinh tế xanh, du lịch y tế và nâng cao sức mạnh mềm Quốc gia.

Y học cổ truyền ảnh 9

Bác sĩ khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện Bạch Mai, điều trị cho bệnh nhân. Ảnh: Trần Hiền.

Để hiện thực hóa tham vọng này, dự thảo Chiến lược tập trung vào 7 nhiệm vụ trọng tâm:

(1) hoàn thiện thể chế và tạo hành lang pháp lý đặc thù cho y học cổ truyền;

(2) phát triển hệ thống khám bệnh, chữa bệnh đồng bộ, kết hợp hiệu quả với y học hiện đại trên tất cả các tuyến;

(3) phát triển công nghiệp dược liệu trở thành ngành kinh tế chiến lược quốc gia với chuỗi giá trị khép kín từ vùng trồng đến chế biến, sản xuất và thương mại;

(4) đẩy mạnh khoa học công nghệ, chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo để chuẩn hóa, hiện đại hóa y học cổ truyền;

(5) phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao;

(6) bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị tri thức, văn hóa y học cổ truyền;

(7) xây dựng thương hiệu quốc gia, phát triển thị trường và mở rộng hợp tác quốc tế để đưa y học cổ truyền Việt Nam từng bước trở thành thương hiệu quốc gia và một trong những thế mạnh của hệ thống y tế Việt Nam.

Với tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu xây dựng nền y học cổ truyền phát triển toàn diện, hiện đại, hội nhập quốc tế, trở thành một trong những nền y học cổ truyền tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

Một hệ sinh thái đồng bộ từ nghiên cứu, đào tạo, điều trị đến thương mại hóa sẽ là bệ phóng nâng cao sức khỏe nhân dân và đóng góp trực tiếp vào sự phát triển kinh tế đất nước.

Bài hát lớn lên cùng con

Ký ức của nhà báo Phạm Hồng Tuyến gắn với những bài hát bất hủ do bố bà, nhạc sĩ Phạm Tuyên, sáng tác như Trường cháu là trường Mầm non - bài hát nhạc sĩ Phạm Tuyên viết tặng trường con gái học; Cả tuần đều ngoan cũng là một khúc ca quen thuộc của nhiều thế hệ trẻ em Việt. Ngoài ra, Ở trường cô dạy em thế, rồi Gặp nhau dưới trời thu Hà Nội, Theo cánh đu bay… cũng đã trở thành ký ức chung của nhiều người Việt Nam.

U50 chật vật với trầm cảm chức năng cao

Những người càng giỏi giang, thành đạt đôi khi càng khó thừa nhận tổn thương tinh thần, mắc kẹt sau một "chiếc mặt nạ" hoàn hảo.

'Công dân laptop' 24 tuổi thẫn thờ trong phòng trị liệu

Một nửa bệnh nhân đau cổ vai gáy điều trị ngoại trú tại khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện Bạch Mai, là người dưới 35 tuổi, chủ yếu do ngồi làm việc quá lâu.

Phương Anh

Bạn có thể quan tâm