Bạn có thể chuyển sang phiên bản mobile rút gọn của Tri thức trực tuyến nếu mạng chậm. Đóng

Thi lớp 10 '2 hay 3 môn': Đừng nhầm tuyển sinh với đánh giá toàn diện

Kỳ thi vào lớp 10 trước hết phải làm tốt nhiệm vụ tuyển chọn, không nên đồng thời gánh yêu cầu đánh giá toàn diện, hướng nghiệp và phân luồng học sinh.

lớp 10 ảnh 1

Sĩ tử Hà Nội dự thi lớp 10 công lập với ba môn (Toán, Ngữ Văn, Tiếng Anh) năm 2026. Ảnh minh họa: Minh Đức / VTC News.

Đề xuất chỉ thi Toán và Ngữ văn vào lớp 10 THPT công lập không chuyên trong dự thảo quy chế tuyển sinh mới của Bộ GD&ĐT đang tạo ra nhiều ý kiến tranh luận. Có người lo không thi Tiếng Anh sẽ khiến học sinh xem nhẹ ngoại ngữ. Người khác cho rằng hai môn không thể đánh giá toàn diện năng lực học sinh.

Tuy nhiên, trước hết cần hỏi kỳ thi vào lớp 10 được tổ chức để làm gì? Nếu không xác định rõ mục tiêu, rất dễ bắt một kỳ thi tuyển sinh làm quá nhiều việc.

Gốc của vấn đề là cung và cầu. Kỳ thi xuất hiện khi số học sinh muốn vào THPT công lập, hoặc vào một số trường nhất định, vượt quá khả năng tiếp nhận. Chính dự thảo cũng quy định chỉ thi tuyển khi số học sinh đăng ký vượt khả năng tiếp nhận và đã điều phối mà vẫn không đủ chỗ.

Ở nơi đủ chỗ học và chất lượng các trường tương đối đồng đều, không có lý do gì phải tổ chức một cuộc thi cạnh tranh căng thẳng. Một trường có 1.000 chỗ nhưng 1.500 học sinh đăng ký thì buộc phải có cách tuyển chọn. Trong trường hợp đó, kỳ thi trước hết phải bảo đảm công bằng, minh bạch và đủ khả năng phân hóa.

Không nên đòi hỏi kỳ thi này đồng thời phải đánh giá đầy đủ mức độ phát triển toàn diện của học sinh sau 9 năm học.

Hai hay ba môn không thể đánh giá toàn diện

Có ý kiến cho rằng thi hai môn không đánh giá được toàn diện học sinh. Điều đó đúng, nhưng kỳ thi ba môn hiện cũng không làm được.

Học sinh THCS còn học Khoa học tự nhiên, Lịch sử và Địa lý, Công nghệ, Tin học, chưa kể những năng lực như sáng tạo, làm việc nhóm, thực hành hay tự học vốn rất khó đo đầy đủ bằng bài thi viết. Không kỳ thi tuyển sinh nào, dù hai, ba hay năm môn, gánh được nhiệm vụ đánh giá toàn diện.

Vì vậy, “toàn diện” không phải là thước đo phù hợp để so sánh hai phương án. Câu hỏi đúng hơn là: Toán và Ngữ văn có cung cấp đủ thông tin để phân loại phục vụ tuyển sinh hay không?

Nếu mục tiêu là cạnh tranh một suất học, lựa chọn hai môn này có cơ sở, nhưng kèm điều kiện. Toán có thể đo khả năng suy luận logic, tư duy định lượng và giải quyết vấn đề. Ngữ văn có thể đo năng lực đọc hiểu, phân tích thông tin, tổ chức ý tưởng, lập luận và diễn đạt. Đó là những năng lực nền tảng cần thiết cho việc học tiếp ở THPT.

Lo ngại học sinh sẽ sao nhãng Tiếng Anh khi môn này không còn trong kỳ thi là có cơ sở, bởi kỳ thi vẫn đang định hướng việc dạy và học. Nhưng một môn học quan trọng không nên phải dựa vào kỳ thi tuyển sinh để giữ vị trí.

Nếu học sinh chỉ học nghiêm túc một môn vì môn đó “có thi”, thì kỳ thi đang điều khiển chương trình.

lớp 10 ảnh 2

TS Hoàng Ngọc Vinh.

Giảm môn nhưng đừng tăng luyện thi

Giảm từ ba môn xuống hai môn chưa chắc tự động làm giảm áp lực. Khi số chỗ học không thay đổi, mức độ cạnh tranh vẫn còn đó. Thậm chí, áp lực luyện thi có thể dồn mạnh hơn vào Toán và Ngữ văn, khiến học sinh học thêm nhiều hơn ở hai môn này.

Vì thế, cùng với việc giảm số môn, cần đổi cách ra đề. Đề Toán cần tăng yêu cầu suy luận, vận dụng và giải quyết vấn đề, hạn chế “ăn điểm” nhờ luyện dạng; đề Ngữ văn cần coi trọng đọc hiểu, tư duy độc lập, lập luận và diễn đạt.

Mục tiêu không phải là làm cho kỳ thi “nhẹ” hơn bằng cách giảm số môn, mà là bảo đảm hai bài thi còn lại thực sự cung cấp được thông tin có giá trị cho việc tuyển chọn. Một kỳ thi hai môn chỉ có ý nghĩa khi hai môn đó đủ sức phân hóa và kết quả đủ tin cậy, chứ không phải đơn giản vì hai ít hơn ba.

lớp 10 ảnh 3

Theo chuyên gia, muốn giảm áp lực thi vào lớp 10 thì không thể chỉ thay đổi số lượng môn thi. Ảnh minh họa.

Lâu dài có thể giảm sự lệ thuộc vào kỳ thi

Về lâu dài, tôi cho rằng cần giảm dần sự phụ thuộc của tuyển sinh vào một kỳ thi duy nhất.

Nếu dữ liệu học tập ở bậc THCS đủ tin cậy, có chuẩn chung và hạn chế được tình trạng “làm đẹp học bạ”, tuyển sinh có thể sử dụng nhiều nguồn thông tin hơn: kết quả học tập, sự tiến bộ qua thời gian, năng lực nổi trội và định hướng nghề nghiệp.

Cách tiếp cận này cũng mở ra khả năng để tuyển sinh gắn với hướng nghiệp và phân luồng. Một học sinh có thế mạnh về khoa học, kỹ thuật có thể phù hợp với một hướng đi khác so với học sinh nổi trội về ngôn ngữ, nghệ thuật hoặc kỹ năng thực hành.

Nếu có đủ dữ liệu để nhận diện những khác biệt đó, việc phân luồng sẽ khách quan hơn và không phải phụ thuộc quá nhiều vào kết quả của vài bài thi diễn ra trong một hoặc hai ngày.

Gốc của áp lực vẫn nằm ở sự chênh lệch giữa nhu cầu học tập và khả năng tiếp nhận của các trường tại những địa bàn có mức độ cạnh tranh cao. Khi số chỗ học vẫn hạn chế, thi hai môn hay ba môn về bản chất vẫn là hai cách tổ chức sự cạnh tranh.

Giải pháp căn cơ hơn phải là tăng khả năng tiếp nhận của hệ thống, thu hẹp khoảng cách chất lượng giữa các trường và tạo ra những con đường học tập sau THCS có chất lượng, để học sinh có cơ hội tiếp tục học tập và phát triển nghề nghiệp.

Khi vẫn cần một kỳ thi tuyển sinh, hãy để kỳ thi làm đúng chức năng của mình: tuyển chọn công bằng, minh bạch và đủ khả năng phân hóa. Còn đánh giá toàn diện, hướng nghiệp và phân luồng phải được thực hiện trong cả quá trình giáo dục. Không nên bắt một kỳ thi tuyển sinh gánh thay nhiệm vụ của cả hệ thống.

Thị trường lao động thay đổi chóng mặt, để tồn tại, con người cần học tập suốt đời. Trong bối cảnh đó, tạp chí Tri Thức - Znews giới thiệu tới độc giả cuốn Học tập suốt đời của tác giả Michelle R.Weise.

Tác phẩm cung cấp cho độc giả những đánh giá về thị trường lao động tương lai, những giải pháp cho nhu cầu vừa học vừa làm đang ngày một tăng, cùng với đó là đưa ra những cách kết nối để quá trình chuyển đổi “học-làm” diễn ra thuận lợi hơn. Từ đó, tác giả nêu lên vai trò của việc học tập suốt đời.

Thi vào lớp 10: Gốc rễ áp lực không dừng ở số môn thi

Theo đại biểu Quốc hội, việc giảm môn thi chưa chắc hạ nhiệt kỳ thi lớp 10. Bởi gốc rễ của áp lực nằm ở sự chênh lệch giữa nhu cầu học tập và khả năng đáp ứng của hệ thống.

https://vtcnews.vn/thi-lop-10-cong-lap-2-hay-3-mon-dung-nham-tuyen-sinh-voi-danh-gia-toan-dien-ar1043500.html

TS Hoàng Ngọc Vinh / VTC News

Bạn có thể quan tâm