
Luật Phát triển đô thị mở rộng quyền tự quyết cho TP.HCM. Nhưng từ “được trao quyền” đến “sử dụng được quyền” còn là bài toán về bộ máy, con người và năng lực quản trị.
Ba bài trước của loạt bài đã đi qua một hành trình: TP.HCM được trao thêm quyền gì, bộ máy phải thay đổi cách làm chính sách ra sao và những cơ chế mới cuối cùng phải tạo ra kết quả gì cho thành phố, người dân, doanh nghiệp.
Nhưng quyền tự quyết càng lớn, một câu hỏi khác càng trở nên quan trọng: ai sẽ sử dụng những quyền ấy và bộ máy phải thay đổi thế nào để đủ sức sử dụng?
PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình, Quyền Viện trưởng Viện Phát triển chính sách và năng lực lãnh đạo ĐHQG-HCM, gọi đây là khoảng cách giữa “được trao quyền” và “sử dụng được quyền”.
Quyền đi cùng năng lực thực thi
Theo ông, việc đầu tiên TP.HCM cần làm không phải bổ sung thêm nhiều dự án, mà nhanh chóng biến những thẩm quyền mới thành năng lực thực thi thực tế của bộ máy. Luật đã trao quyền, vấn đề quyết định là bộ máy có dám dùng quyền và chịu trách nhiệm đến cùng hay không.
Đó cũng là điểm gặp nhau trong ý kiến của nhiều chuyên gia khi nhìn về chặng đường sau ngày 1/10: trao quyền mới chỉ mở ra khả năng; năng lực quản trị mới quyết định khả năng ấy được sử dụng đến đâu. Khi nhiều thẩm quyền từ Trung ương được chuyển về TP.HCM, câu chuyện phân quyền chưa dừng lại ở cấp thành phố.
TS Nguyễn Thị Thiện Trí, Trường Đại học Luật TP.HCM, cho rằng quản trị đô thị hiệu quả không dừng ở cấp thành phố mà phải tiếp tục phân quyền cho chính quyền cơ sở, cơ quan chuyên môn cùng cấp và các đơn vị cơ sở trực thuộc. Điều quan trọng là xác định rõ ranh giới thẩm quyền.
Theo bà, cấp thành phố cần tập trung vào chiến lược, quy hoạch vĩ mô và hạ tầng khung; cấp cơ sở và cơ quan chuyên môn được tự chủ trong quản trị phân khu, dịch vụ công và trật tự đô thị. Đây là cách tiếp cận quản trị đa tầng mà bà Thiện Trí đặt ra khi TP.HCM bước vào một không gian tự quyết lớn hơn. Nếu quyền chỉ chuyển từ Trung ương về thành phố nhưng tiếp tục tập trung ở cấp thành phố, một phần ý nghĩa của phân quyền có thể chưa đi hết hành trình.
Ở chiều ngược lại, trao quyền xuống dưới cũng đặt ra ngay câu hỏi về khả năng tiếp nhận quyền. TS Bùi Ngọc Hiền, Học viện Cán bộ TP.HCM, cho rằng song song với việc nhanh chóng cụ thể hóa và triển khai Luật Phát triển đô thị, thành phố phải chuẩn bị đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu công việc.
Ngoài đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cần thiết, ông đề xuất thiết lập các kênh hỗ trợ từ các sở, ngành thành phố; chia sẻ nguồn lực giữa các xã, phường và triển khai “hợp đồng công vụ” để đáp ứng kịp thời nhu cầu nhân lực cục bộ có thể phát sinh tại các đơn vị. Cùng với đó, thành phố cần sử dụng linh hoạt, hiệu quả “quỹ biên chế tăng thêm 20%” được Luật Phát triển đô thị quy định để chủ động đổi mới, đảm bảo hoạt động hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị thành phố.
Như vậy, “trao quyền” phải đi cùng “trao năng lực”. Một cấp chính quyền có thêm thẩm quyền nhưng thiếu con người, chuyên môn hoặc nguồn lực để thực hiện thì quyền được trao khó chuyển thành khả năng giải quyết công việc.

Vấn đề này càng đáng chú ý khi luật mở ra những công cụ và mô hình mới, từ TOD, không gian đô thị ngầm, không gian trên cao đến logistics. Bộ máy ở từng cấp không chỉ cần biết mình được làm gì, mà còn phải đủ năng lực để thực hiện phần việc đã được giao.
PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình đặt yêu cầu cụ thể hơn: thành phố cần rà soát toàn bộ thẩm quyền mới, chuyển thành quy trình thực hiện thống nhất và phân định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, cá nhân. Phải “rõ quyền, rõ việc, rõ người, rõ thời hạn và rõ trách nhiệm giải trình”. Việc thuộc thẩm quyền thành phố thì phải chủ động quyết, hạn chế tâm lý tiếp tục chờ xin ý kiến.
Phân quyền, nhìn từ đó, không kết thúc ở việc xác định ai có quyền quyết định. Nó chỉ thực sự hoàn tất khi người được giao quyền biết rõ mình phải làm gì, có đủ năng lực để làm và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Khi có quyền vẫn ngại quyết
Đây là lớp vấn đề thứ hai mà cả 3 chuyên gia cùng đặt ra. Theo PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình, trao thêm thẩm quyền mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ nằm ở cách TP.HCM tổ chức thực thi. Ông cho rằng thành phố cần chuyển từ tư duy “có hồ sơ thì xử lý” sang tư duy kiến tạo: chủ động nhận diện vấn đề, đề xuất phương án, ra quyết định và theo đến cùng kết quả.
Sự thay đổi này đòi hỏi nhiều hơn một quy trình mới. TS Bùi Ngọc Hiền cho rằng khi thành phố được trao nhiều quyền chủ động hơn, cách điều hành và phối hợp trong bộ máy của hệ thống chính trị nói chung và nền công vụ TP.HCM cần đổi mới đồng bộ từ tư duy, phương thức hoạt động đến từng hoạt động công vụ cụ thể.
Tinh thần chủ động, sáng tạo, trách nhiệm phải được kích hoạt trong toàn bộ chu trình “hoạch định - tổ chức thực thi - đánh giá” mỗi cơ chế, chính sách cụ thể.

Theo ông, mỗi cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý đóng vai trò như một người chỉ huy trên phần việc của mình; chỉ một vị trí không “tròn vai” cũng có thể làm giảm kết quả thực thi chung. Vì vậy, bên cạnh kiểm soát quá trình thực hiện, cơ quan có thẩm quyền cần kịp thời đánh giá, thay thế những vị trí không đáp ứng yêu cầu và bổ sung nhân tố mới cho những vị trí xung yếu, quan trọng.
Nhưng yêu cầu cán bộ quyết nhanh hơn, chủ động hơn cũng đặt ra một vấn đề khác: ranh giới nào để người thực thi biết mình có thể đi đến đâu?
PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình cho rằng thành phố cần tạo không gian pháp lý đủ an toàn để cán bộ thực thi, doanh nghiệp yên tâm đầu tư và các mô hình mới có điều kiện được kiểm chứng. Đặc biệt, cần có cơ chế bảo vệ cán bộ làm đúng thẩm quyền, đúng quy trình, công khai, minh bạch và vì lợi ích chung. “Trao quyền mà người thực thi vẫn sợ trách nhiệm thì cơ chế mới rất dễ nằm trên giấy”, ông nhận định.
Theo ông, phải phân biệt rõ sai phạm vì vụ lợi với rủi ro phát sinh trong quá trình đổi mới, thử nghiệm và thực thi vì lợi ích chung. Nếu cán bộ làm đúng quy định, đúng thẩm quyền, minh bạch và không vụ lợi thì cần có cơ chế bảo vệ để họ dám quyết, dám làm và dám chịu trách nhiệm.
TS Bùi Ngọc Hiền tiếp cận vấn đề này từ việc làm rõ ranh giới thực thi. Ông cho rằng cần làm rõ nội hàm, tính thực tiễn của “dám nghĩ, dám làm”, “vì lợi ích chung” và những nội dung liên quan để cán bộ, công chức, viên chức tự xác định được các “lằn ranh”, “cảnh báo” trong hoạt động công vụ.
Cấp ủy, tập thể lãnh đạo các cấp chính quyền, cơ quan, đơn vị có thể đóng vai trò như hội đồng thẩm định đối với những ý tưởng, đề xuất thể hiện tính năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Khi quyết định không đạt kết quả hoặc phát sinh sai sót, tập thể lãnh đạo tiếp tục đóng vai trò như trọng tài để xem xét, có căn cứ bảo vệ người năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.
TS Nguyễn Thị Thiện Trí cũng đặt vấn đề về một “vùng an toàn pháp lý” cho cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới. Theo bà, cần cụ thể hóa cơ chế bảo vệ đối với cán bộ, công chức khi thực hiện các chính sách thí điểm, sáng tạo vì lợi ích chung nhưng chưa có tiền lệ.
Ba cách tiếp cận gặp nhau ở một điểm: trao quyền phải đi cùng trách nhiệm, nhưng trách nhiệm cũng phải đi cùng những ranh giới đủ rõ để người thực thi có thể hành động. Nếu quyền đã được trao nhưng người có quyền vẫn chờ, vẫn ngại quyết định hoặc không biết một quyết định đổi mới sẽ được đánh giá thế nào khi phát sinh rủi ro, khoảng cách từ “có quyền” đến “dùng được quyền” vẫn còn đó.
Bộ máy phải trả lời bằng kết quả
Khi quyền đã được phân định, người thực thi đủ năng lực và có không gian để hành động, câu hỏi cuối cùng là bộ máy sẽ được đánh giá bằng gì.
TS Nguyễn Thị Thiện Trí cho rằng TP.HCM cần chuyển từ quản lý quy trình sang quản trị theo kết quả đầu ra. Mọi kế hoạch thi hành Luật, theo bà, phải bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ sản phẩm, rõ trách nhiệm và rõ hiệu năng. Hiệu năng công vụ cần được đo bằng bộ chỉ số cụ thể.
TS Bùi Ngọc Hiền cũng đề xuất thiết lập kênh chỉ đạo, điều hành, đánh giá việc tổ chức thi hành các cơ chế, chính sách của Luật trên hệ thống quản lý đánh giá cán bộ (KPI) của thành phố. Cùng với đó là cơ chế để người dân, doanh nghiệp phản hồi, đánh giá chính sách bằng những kết quả thực tiễn và giá trị xã hội cụ thể.
Ở đây, thước đo không còn nằm hoàn toàn bên trong bộ máy. Theo TS Nguyễn Thị Thiện Trí, đô thị là một hệ sinh thái nơi lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp và cư dân liên tục đan xen. Quản trị hiện đại cần coi cư dân đô thị và doanh nghiệp là những chủ thể cùng tham gia phát triển.
Các điều chỉnh về quy hoạch, cơ chế tài chính đặc thù hay chính sách giải phóng mặt bằng cần có kênh tham vấn đa bên gồm doanh nghiệp, chuyên gia và cộng đồng dân cư chịu tác động. Bà cũng đề xuất công khai thông tin quy hoạch, dữ liệu đất đai và tiến độ dự án trên nền tảng số để người dân giám sát; đồng thời thiết lập cơ chế sơ kết, đánh giá định kỳ các chính sách thí điểm, sẵn sàng tạm dừng hoặc điều chỉnh nếu xuất hiện tác động tiêu cực vượt dự báo.
Quản trị bằng kết quả, vì thế, không chỉ là đặt chỉ tiêu cho bộ máy. Nó còn là khả năng để kết quả được nhìn thấy, được đánh giá và được phản hồi từ những người chịu tác động của chính sách.
Luật không tự giải quyết những bài toán của một siêu đô thị. TS Nguyễn Thị Thiện Trí nhìn nhận đây là khung khổ cho phép thành phố tự thiết kế phương án giải quyết của chính mình. Thành công không được đo bằng số lượng văn bản, mà bằng khả năng tháo gỡ điểm nghẽn giao thông, cải thiện chất lượng sống, tối ưu nguồn lực đất đai và kích hoạt tinh thần đổi mới sáng tạo của bộ máy.
PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình cũng đưa ra một cách đo rất ngắn gọn: thước đo cuối cùng không phải TP.HCM “có thêm bao nhiêu cơ chế”, mà là “cơ chế đó đã tạo ra bao nhiêu kết quả”.
Từ quyền được trao đến khả năng sử dụng quyền là khoảng cách mà TP.HCM phải tự đi.
Luật đã mở rộng không gian tự quyết cho TP.HCM. Phụ thuộc bộ máy có đủ năng lực để quyết, đủ trách nhiệm để chịu trách nhiệm về quyết định và đủ khả năng biến những quyền mới thành kết quả có thể đo đếm trong thực tế. Đó cũng sẽ là phép thử dài hạn của một siêu đô thị được trao quyền lớn hơn.
PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình đề xuất một thước đo theo thời gian. Trong năm đầu tiên, theo ông, TP.HCM cần trả lời 3 câu hỏi: các thẩm quyền mới đã thực sự vận hành chưa; thời gian xử lý thủ tục về quy hoạch, đầu tư và triển khai dự án có được rút ngắn không; trách nhiệm của từng cơ quan, cá nhân đã rõ chưa. Đặc biệt, cần đo thời gian từ khi một dự án được đề xuất đến khi đủ điều kiện triển khai thực tế.
Sau khoảng 3 năm, trọng tâm đánh giá phải chuyển từ “đã ban hành được gì” sang “đã tạo ra được kết quả gì”: nguồn lực xã hội huy động được bao nhiêu; môi trường đầu tư và chất lượng quản trị đô thị cải thiện ra sao; hạ tầng chiến lược tiến triển thế nào; người dân có đi lại thuận tiện hơn, tiếp cận dịch vụ công tốt hơn và hài lòng hơn hay không.
Sách Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh - Thành phố của tôi là ấn phẩm kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng Miền Nam, Thống nhất Đất nước. Sách gồm 28 bài viết, là 28 câu chuyện dung dị, thấm đượm tình yêu dành cho vùng đất nghĩa tình, dễ sống và đáng sống. Từ đó, sách khắc họa và lan tỏa những thành tựu phát triển của TP.HCM dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền và sự chung tay, góp sức của nhân dân thành phố từ năm 1975 đến nay.