|
| Nồng độ hơi nước tăng cao có thể làm tăng nguy cơ mưa lớn, bao gồm cả mưa do lốc xoáy, và cung cấp thêm năng lượng cho các cơn bão. Ảnh: Shutterstock. |
Tháng 8 vừa qua ghi nhận một loạt dấu hiệu đáng chú ý trong hệ thống khí hậu Trái Đất. Lượng hơi nước trong khí quyển đạt mức cao nhất từng được ghi nhận, hai tảng băng lớn nhất hành tinh tiếp tục thu hẹp và mực nước biển ngày càng đe dọa các khu vực ven biển.
Những diễn biến này có mối liên hệ chặt chẽ với tình trạng nóng lên toàn cầu. Khí quyển ấm hơn có thể giữ nhiều hơi nước hơn, nhiệt độ đại dương tăng thúc đẩy quá trình bốc hơi, trong khi các tảng băng trên đất liền mất khối lượng và góp phần trực tiếp làm mực nước biển dâng.
Theo Cơ quan Biến đổi Khí hậu Copernicus (C3S), lượng hơi nước trung bình trong khí quyển tháng 8 đạt 27,35 kg/m2, vượt kỷ lục trước đó được thiết lập vào tháng 7/2024 khoảng 0,04 kg/m2, Guardian cho biết.
Mức chênh lệch này tương đương khoảng 20.000 tỷ lít nước, đủ để tạo thành 20 khối lập phương có chiều dài, rộng và cao đều 1 km.
“Trong tháng 8, nhiệt độ mặt nước biển đặc biệt cao tại những khu vực này, một phần liên quan đến sự xuất hiện và gia tăng cường độ của El Niño, đã làm tăng quá trình bốc hơi và nhiều khả năng là một yếu tố quan trọng khiến lượng hơi nước toàn cầu đạt mức kỷ lục”, Tiến sĩ Julien Nicolas, nhà khoa học cấp cao tại C3S cho biết.
Theo ông, không khí có thể chứa thêm khoảng 7% hơi nước cho mỗi 1 độ C nhiệt độ toàn cầu tăng.
|
El Nino góp phần đẩy lượng hơi nước lên mức kỷ lục
Các đại dương nhiệt đới là một trong những nguồn cung cấp hơi nước chủ yếu cho khí quyển. Trong tháng 8, nhiệt độ mặt nước biển đặc biệt cao tại những khu vực này, một phần liên quan đến sự xuất hiện và gia tăng cường độ của El Nino.
Nước biển ấm hơn làm tăng bốc hơi, đưa thêm hơi nước vào khí quyển. Khi lượng hơi nước tăng, nguy cơ xuất hiện mưa lớn cũng cao hơn, trong đó có các trận mưa liên quan đến xoáy thuận nhiệt đới.
Hơi nước còn có thể cung cấp thêm năng lượng cho các hệ thống bão. Khi hơi nước ngưng tụ thành các giọt nước trong mây, nhiệt được giải phóng, qua đó có khả năng làm các hệ thống thời tiết cực đoan mạnh lên.
El Nino hiện tại ở Thái Bình Dương được dự báo có thể trở thành một trong những đợt mạnh nhất từng được ghi nhận. Các nhà khoa học Australia cho biết nhiệt độ đại dương cao kỷ lục tại Thái Bình Dương, vốn là một dấu hiệu của El Nino, có khả năng xảy ra cao gấp 6 lần do tác động của tình trạng nóng lên toàn cầu.
Giáo sư Steven Sherwood thuộc Đại học New South Wales cho rằng tác động của hơi nước không chỉ thể hiện qua mưa cực đoan. Khi hơi nước được vận chuyển đến các vĩ độ cao hơn, nó đưa thêm nhiệt vào khí quyển, góp phần vào những đợt nắng nóng cực đoan.
“Nhiều tác động của biến đổi khí hậu thực tế xảy ra do hơi nước”, ông nói.
Độ ẩm cao cũng khiến con người khó phục hồi sau những ngày nóng bởi làm giảm khả năng hạ nhiệt vào ban đêm.
Giáo sư Jason Evans, cũng thuộc Trung tâm Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu của Đại học New South Wales, tính toán kỷ lục mới về lượng hơi nước cao hơn kỷ lục trước tương đương khoảng 20.000 tỷ lít nước, tương đương khoảng 41 lần thể tích nước của cảng Sydney.
Tiến sĩ Kimberley Reid, nhà khoa học khí hậu tại Đại học Melbourne chuyên nghiên cứu về hơi nước, cho rằng kỷ lục này không quá bất ngờ trong bối cảnh tháng 8 vừa qua là tháng nóng nhất trong ít nhất 170 năm.
“Nhiệt độ và lượng hơi nước có mối liên hệ rất chặt chẽ”, bà nói. “Cũng giống như các kỷ lục về nhiệt độ, những kỷ lục này xuất hiện do khí thải từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch và do El Nino”.
|
11.300 tỷ tấn băng biến mất trong hơn 4 thập kỷ
Trong khi khí quyển ngày càng chứa nhiều hơi nước, các tảng băng khổng lồ tại Greenland và Nam Cực tiếp tục mất khối lượng.
Một nghiên cứu quốc tế dựa trên dữ liệu từ 27 sứ mệnh vệ tinh cho thấy Greenland và Nam Cực đã mất tổng cộng 11.300 tỷ tấn băng trong giai đoạn 1979-2023, theo Reuters. Lượng băng này góp phần khiến mực nước biển toàn cầu tăng khoảng 3,14 cm.
Đây là chuỗi dữ liệu vệ tinh dài nhất từng được thu thập về những thay đổi của các tảng băng, giúp các nhà khoa học có bức tranh đầy đủ hơn về tốc độ mất băng tại hai khu vực cực.
Khoảng 60% lượng băng thất thoát đến từ Greenland và 40% từ Nam Cực, dù diện tích Greenland chỉ bằng khoảng một phần tám Nam Cực.
Nhà khoa học khí hậu Inès Otosaka thuộc Đại học Northumbria (Anh), tác giả chính của nghiên cứu, cho biết 11.300 tỷ tấn băng đủ để tạo thành một khối lập phương cao khoảng 23 km.
Dữ liệu cũng cho thấy lượng băng thất thoát bắt đầu tăng từ những năm 1990. Tốc độ mất băng trong các năm 2010 cao gấp khoảng 4 lần so với thập niên 1980.
Đáng chú ý, khoảng 84% lượng băng mất đi đến từ việc các sông băng chảy nhanh hơn ra đại dương, thay vì chỉ do băng tan trên bề mặt. Theo các nhà nghiên cứu, điều này cho thấy xu hướng dài hạn đang chịu ảnh hưởng đáng kể từ phản ứng của các tảng băng trước tình trạng đại dương ấm lên.
Tốc độ mất băng có chậm lại trong giai đoạn 2020-2023, nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng đây nhiều khả năng chỉ là biến động ngắn hạn chứ chưa phải dấu hiệu đảo ngược xu hướng.
Tại Đông Nam Cực, lượng tuyết rơi cao bất thường đã bổ sung đủ băng để bù đắp một phần lượng thất thoát từ các sông băng ở những khu vực khác. Trong khi đó, mùa hè tương đối ôn hòa tại Greenland giúp giảm đáng kể hiện tượng tan băng trên bề mặt.
|
| Nghiên cứu từ vệ tinh cho thấy hai tảng băng lớn nhất Trái Đất ở Greenland và Nam Cực đang mất đi lượng băng đáng kể. Ảnh: Reuters. |
770 triệu người đang sống trong vùng nguy cơ
Khi băng trên đất liền tan chảy, lượng nước bổ sung vào đại dương khiến mực nước biển tiếp tục dâng, trực tiếp gia tăng sức ép lên các thành phố và cộng đồng ven biển.
Theo báo cáo mới của Liên Hợp Quốc, mực nước biển trung bình toàn cầu đang tăng do đại dương ấm lên cùng với sự tan chảy của sông băng và các tảng băng. Riêng năm 2024, mực nước biển tăng gần 6 mm, mức cao nhất từng được ghi nhận.
Khoảng 770 triệu người, tương đương 1/10 dân số thế giới, hiện sống tại các khu vực ven biển cao chưa đến 5 m so với mực triều cao nhất. Đây là những cộng đồng đặc biệt dễ tổn thương trước tình trạng nước biển dâng và các hiện tượng cực đoan ven biển.
Tại Nam Á, nguy cơ đang hiện hữu rõ nét ở các thành phố nằm trong những vùng châu thổ thấp như Mumbai và Kolkata của Ấn Độ, Dhaka của Bangladesh. Hơn 14 triệu người tại các khu vực này có nguy cơ mất nhà do tình trạng ngập vĩnh viễn.
Rủi ro càng nghiêm trọng khi mực nước biển dâng đồng thời với sụt lún đất, khiến mặt đất hạ thấp nhanh hơn so với mực nước biển. Nước mặn xâm nhập cũng có thể làm nhiễm mặn nguồn nước ngọt và đất đai, ảnh hưởng đến nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, hoạt động tưới tiêu và hệ sinh thái nước ngầm.
Tác động không chỉ dừng ở nơi ở của người dân. Hạ tầng ven biển, các dịch vụ thiết yếu, sinh kế và hoạt động kinh tế cũng ngày càng chịu sức ép khi mực nước biển trung bình tăng và các đợt nước biển dâng cực đoan xuất hiện thường xuyên hơn.
|
| Mực nước biển dâng đe dọa hàng trăm triệu người trên thế giới. Ảnh: Reuters. |
Tại châu Âu, khoảng 70% đường bờ biển Đức đang bị lùi vào đất liền do xói mòn. Ở Pháp, các bãi biển cát nhỏ trên French Riviera đã mất khoảng một nửa diện tích kể từ cuối thế kỷ 19. Trong khi đó, tại nhiều khu vực ven Địa Trung Hải và Đại Tây Dương, tần suất những trận ngập ven biển cực đoan được dự báo có thể tăng gấp 10 lần trước năm 2050.
Liên Hợp Quốc cảnh báo nếu các biện pháp thích ứng không được triển khai khẩn cấp, tới 1,2 tỷ người có thể phải di dời vào năm 2050. Một số cộng đồng tại các đảo Thái Bình Dương đã bắt đầu di dời khi lãnh thổ sinh sống dần bị thu hẹp do tác động của nước biển.
Sức ép kinh tế cũng ngày càng rõ rệt. Thiệt hại đối với cơ sở hạ tầng ven biển hiện được ước tính hơn 1.800 tỷ USD. Nếu các biện pháp thích ứng không được thực hiện, thiệt hại kinh tế toàn cầu mỗi năm có thể lên tới 1.200-4.000 tỷ USD vào cuối thế kỷ.
Tại Caribbean, nơi du lịch biển đóng góp đáng kể cho nền kinh tế, gần 40% bãi biển có thể biến mất vào năm 2050, đe dọa một nguồn thu quan trọng của khu vực.
Mực nước biển dâng cũng đặt ra những thách thức đối với các quyền cơ bản như tiếp cận nhà ở, nước sạch, vệ sinh, lương thực, y tế và giáo dục. Người bản địa và cư dân các quốc đảo nhỏ thuộc nhóm dễ tổn thương nhất, khi nguy cơ họ phải đối mặt không chỉ là mất nơi ở mà còn là sự mai một của di sản văn hóa và mối liên hệ lịch sử với vùng đất tổ tiên.
Những cuốn sách hay về biến đổi khí hậu
“Những kiến thức cơ bản về biến đổi khí hậu”, “Băng - Những câu chuyện ly kỳ từ một thế giới đang dần biến mất”, “Thảm họa khí hậu - Chúng ta đã có gì và làm gì để ứng phó?”,... nằm trong số những cuốn sách giúp độc giả có cái nhìn trực diện và bao quát hơn khi nói đến vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu.
Độc giả có thể xem thêm tại đây.