
Cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài đang bước sang một giai đoạn mới. Trong làn sóng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và cuộc đua về công nghệ, các quốc gia ngày càng hướng tới những dòng vốn có giá trị gia tăng cao, gắn với nghiên cứu - phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực.
Đối với Việt Nam, định hướng này được thể hiện xuyên suốt trong các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết 10-NQ/TW,...
Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 diễn ra tại Hà Nội, ngày 1/8, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu “nâng cao chất lượng đầu tư nước ngoài”, “thu hút có chọn lọc các dự án công nghệ cao”, đồng thời gắn dòng vốn với “chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực” và sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
|
| Tổng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33. Ảnh: Nhân Dân. |
Những định hướng này cũng đặt ra yêu cầu mới đối với hoạt động đối ngoại. FDI cần được xem là kênh đưa công nghệ, tri thức, nhân lực chất lượng cao và phương thức quản trị tiên tiến vào Việt Nam, thay vì chỉ là nguồn vốn bổ sung cho nền kinh tế.
Đón đầu, tìm đúng “điểm rơi” của dòng vốn
Những chuyển động từ thị trường Mỹ phản ánh rõ sự thay đổi trong cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài.
Theo Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Nguyễn Quốc Dũng, việc Việt Nam và Mỹ nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện đã mở ra dư địa hợp tác rộng lớn trong các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng, khoáng sản chiến lược, kinh tế số và đổi mới sáng tạo.
Giá trị của khuôn khổ quan hệ nằm ở khả năng chuyển hóa thành các dự án đầu tư cụ thể, các trung tâm nghiên cứu - phát triển (R&D), trung tâm thiết kế, trung tâm dữ liệu và các chuỗi cung ứng công nghệ mới tại Việt Nam.
|
| Đại sứ Việt Nam tại Mỹ phát biểu tại Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 22. Ảnh: Thế giới&Việt Nam. |
Sự thay đổi đến từ cả định hướng phát triển của Việt Nam lẫn chiến lược của các tập đoàn Mỹ. Theo Đại sứ Nguyễn Quốc Dũng, Việt Nam ngày càng được nhìn nhận như một mắt xích trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu thay vì một địa điểm sản xuất có chi phí cạnh tranh. Xu hướng đầu tư cũng dịch chuyển từ các hoạt động gia công, lắp ráp sang nghiên cứu, thiết kế, dữ liệu và các lĩnh vực có hàm lượng tri thức cao.
Ngày càng nhiều doanh nghiệp muốn xây dựng cơ sở sản xuất, trung tâm R&D, thiết kế, dữ liệu và chuỗi cung ứng công nghệ cao tại Việt Nam. Đây là dòng vốn giá trị gia tăng lớn, tạo việc làm chất lượng cao và thúc đẩy chuyển giao công nghệ
Đại sứ Nguyễn Quốc Dũng
Sự dịch chuyển của dòng vốn cũng làm thay đổi tiêu chí lựa chọn điểm đến đầu tư. Qua quá trình làm việc với cộng đồng doanh nghiệp Mỹ, Đại sứ Nguyễn Quốc Dũng cho biết các nhà đầu tư hiện đánh giá toàn diện chất lượng nguồn nhân lực, tính ổn định và minh bạch của chính sách, khả năng đáp ứng về điện, logistics và hạ tầng số, hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính cũng như năng lực đồng hành của chính quyền địa phương trong suốt vòng đời dự án.
Đối với các dự án bán dẫn, AI hay trung tâm R&D, quá trình chuẩn bị thường kéo dài nhiều năm. Các ưu đãi trước mắt là một yếu tố nhưng chất lượng của hệ sinh thái phát triển mới đóng vai trò quyết định, bao gồm năng lực đào tạo nhân lực, liên kết giữa doanh nghiệp với trường đại học và viện nghiên cứu, cũng như khả năng tham gia của doanh nghiệp nội địa vào chuỗi cung ứng.
Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với tinh thần Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, khi chất lượng FDI được nhìn nhận qua khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và tăng cường liên kết với khu vực kinh tế trong nước.
Theo Đại sứ Nguyễn Quốc Dũng, thực tiễn này đòi hỏi Việt Nam chuyển trọng tâm từ thu hút nhiều vốn sang thu hút đúng nhà đầu tư, đúng lĩnh vực và đúng hệ sinh thái, đồng thời xác định đúng "điểm rơi" của dòng vốn Mỹ.
Bên cạnh đó, danh mục đối tác mục tiêu cần được xác định rõ; quỹ đất, hạ tầng và dự án phải sẵn sàng; đội ngũ chuyên trách hỗ trợ nhà đầu tư cần được xây dựng bài bản ngay từ giai đoạn tiếp cận.
"Trong cuộc cạnh tranh thu hút FDI chất lượng cao, các địa phương của Việt Nam cần đi trước một bước, đó là chuẩn bị hạ tầng, chuẩn bị thể chế, chuẩn bị nhân lực và chuẩn bị dự án. Nếu làm được điều đó, chúng ta không chỉ đón vốn Mỹ, mà còn đón được công nghệ, quản trị và chuỗi giá trị mới, qua đó nâng cao chất lượng tăng trưởng của địa phương và của cả nền kinh tế", Đại sứ Nguyễn Quốc Dũng nhấn mạnh.
Quan trọng hơn, theo Đại sứ, việc kết nối cũng cần chuyển từ xúc tiến đầu tư dàn trải sang tiếp cận theo hệ sinh thái. California với AI và đổi mới sáng tạo, Arizona với ngành bán dẫn, Texas với năng lượng, Washington với hàng không và logistics hay Maryland với công nghệ sinh học đều sở hữu những lợi thế riêng mà các địa phương Việt Nam có thể chủ động khai thác thông qua hợp tác với chính quyền bang, trường đại học, trung tâm nghiên cứu và hiệp hội doanh nghiệp.
|
| Nhà máy của Intel tại Khu Công nghệ cao TP.HCM. Ảnh: IPV. |
Ở góc độ đó, ngoại giao kinh tế không thể chỉ đi sau dòng vốn để quảng bá cơ hội đầu tư mà cần chủ động đi trước trong việc nhận diện xu hướng công nghệ, nắm bắt sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng và kết nối những đối tác phù hợp với chiến lược phát triển của Việt Nam.
Với FDI thế hệ mới, hiệu quả của hoạt động đối ngoại vì thế không nằm ở số lượng cuộc gặp hay biên bản ghi nhớ mà ở những dự án thực sự được triển khai, công nghệ được chuyển giao, doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và những năng lực mới được hình thành cho nền kinh tế.
Đích đến là công nghệ và tri thức
Thu hút được dòng vốn chất lượng cao mới là điểm khởi đầu. Quan trọng hơn là biến các dự án FDI thành nguồn lực cho khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh. Singapore là một ví dụ điển hình cho cách tiếp cận này.
Với diện tích và quy mô dân số khiêm tốn, quốc đảo không phát triển dàn trải toàn bộ chuỗi giá trị công nghệ, mà tập trung vào những phân khúc có lợi thế, đồng thời xây dựng hệ sinh thái kết nối Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu. Nhờ đó, FDI trở thành một kênh tiếp nhận công nghệ, tri thức, nhân lực chất lượng cao và phương thức quản trị tiên tiến.
Ngành bán dẫn là minh chứng rõ nét. Chia sẻ với Tri Thức - Znews, Đại sứ Việt Nam tại Singapore Trần Phước Anh cho biết Singapore tập trung vào những công đoạn có thế mạnh, trong đó có thiết bị phục vụ sản xuất chip và các hoạt động chế tạo tiên tiến, thay vì theo đuổi toàn bộ chuỗi giá trị.
|
| Đại sứ Việt Nam tại Singapore Trần Phước Anh chia sẻ tại bên lề Hội nghị Ngoại giao lần thứ 23. Ảnh: Đỗ Thảo. |
Cùng với việc thu hút các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới, Singapore tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng và từng bước nâng cao năng lực. Hiệu ứng lan tỏa vì thế vượt ra ngoài phạm vi nhà máy, kéo theo nhu cầu về logistics, tài chính, dịch vụ kỹ thuật, nghiên cứu, đào tạo nhân lực và các ngành công nghiệp hỗ trợ.
“Các doanh nghiệp Singapore sẽ tham gia vào chuỗi đó để tiếp cận công nghệ mới, nhận chuyển giao công nghệ, đồng thời tạo ra giá trị kinh tế cho cả hệ sinh thái của Singapore, từ chỗ ở, ăn uống, đi lại, dịch vụ, giải trí... Từ đó, Singapore hưởng lợi từ cả một hệ sinh thái chứ không đơn thuần là có một nhà máy đến sản xuất chip”, Đại sứ Trần Phước Anh cho biết.
Theo Đại sứ, đây cũng là hướng tiếp cận mà Việt Nam cần theo đuổi trong triển khai ngoại giao khoa học - công nghệ. Điểm xuất phát không phải là tìm kiếm càng nhiều nhà đầu tư càng tốt, mà là xác định rõ nhu cầu phát triển của Việt Nam, lựa chọn những công nghệ ưu tiên và kết nối đúng những hệ sinh thái có khả năng đáp ứng các mục tiêu đó.
Đối với Singapore, những lĩnh vực có nhiều dư địa hợp tác gồm trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, công nghệ xanh, chuyển đổi số, đô thị thông minh, công nghệ lượng tử và kinh tế không gian.
|
| VSIP (Công ty Liên doanh khu công nghiệp Việt Nam - Singapore) chuyển mình sang thời kỳ mới, hướng đến thu hút dòng vốn FDI xanh, trở thành cứ điểm thu hút dòng vốn FDI công nghệ cao, bán dẫn. Ảnh: Quỳnh Danh. |
Theo Đại sứ Trần Phước Anh, bên cạnh các doanh nghiệp, mạng lưới kết nối cần mở rộng tới trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo và các chuyên gia. Chính sự liên kết giữa những chủ thể này quyết định khả năng chuyển giao công nghệ, hợp tác nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển doanh nghiệp hỗ trợ trong quá trình triển khai dự án.
Đây cũng là cách FDI có thể đóng góp trực tiếp vào những mục tiêu mà Nghị quyết 57 đặt ra: thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất của nền kinh tế.
Việt Nam hiện có nhiều điều kiện thuận lợi để thu hút các dự án khoa học - công nghệ. Sự quan tâm của Singapore cũng như nhiều nhà đầu tư quốc tế tiếp tục gia tăng nhờ quy mô thị trường, nguồn nhân lực, vị trí trong ASEAN và triển vọng phát triển dài hạn. Môi trường đầu tư cùng khung khổ pháp lý cũng đang từng bước được hoàn thiện theo hướng minh bạch và thuận lợi hơn.
Chủ trương, chính sách đã ban hành đều đang đi đúng hướng và ngày càng thuận lợi, nhưng việc triển khai ở các địa phương, ở các đơn vị mới là yếu tố rất quan trọng
Đại sứ Việt Nam tại Singapore Trần Phước Anh
Tuy nhiên, theo Đại sứ Trần Phước Anh, lợi thế chỉ có thể chuyển hóa thành dự án khi năng lực triển khai được bảo đảm ngay từ địa phương.
Trong cuộc cạnh tranh FDI thế hệ mới, khả năng thu hút công nghệ, tri thức và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành thước đo lợi thế của một quốc gia, bên cạnh các yếu tố như chi phí và ưu đãi đầu tư. Khi dòng vốn mang theo các trung tâm R&D, chuyên gia, công nghệ lõi và mạng lưới nghiên cứu, giá trị của FDI chuyển từ quy mô vốn đăng ký sang năng lực mới được tạo dựng cho nền kinh tế.
Chính vì vậy, bên cạnh mở rộng quan hệ hay xúc tiến đầu tư, yêu cầu đặt ra đối với ngoại giao còn là góp phần xây dựng những cây cầu kết nối công nghệ, nhân lực và tri thức với các trung tâm đổi mới sáng tạo của thế giới.
Khi những nguồn lực đó được chuyển hóa thành năng lực của doanh nghiệp Việt Nam và các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước, FDI mới thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Suy ngẫm về con đường phát triển của Việt Nam
Cuốn sách Hồi ức đến tương lai tập hợp các bài báo chính luận, ghi chép của Giáo sư Trần Văn Thọ - nhà kinh tế học, từng là thành viên Tổ Tư vấn kinh tế của nhiều thủ tướng Việt Nam. Cuốn sách phản ánh hai mối quan tâm lớn của ông: Làm thế nào để Việt Nam phát triển - từ một đất nước nghèo nàn và chiến tranh trở thành quốc gia có thu nhập cao; Hình ảnh lý tưởng của một quốc gia phát triển - nơi người dân có đời sống hạnh phúc, văn minh và được thế giới kính trọng.